Thành phần của Thuốc tiêm Recormon 4000Iu/0.3ml
|
Thông tin thành phần |
Hàm lượng |
|---|---|
|
Epoetin alfa |
4000IU |
Công dụng của Thuốc tiêm Recormon 4000Iu/0.3ml
Chỉ định
Thuốc Recormon được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
- Điều trị thiếu máu do suy thận mạn có biểu hiện triệu chứng ở những bệnh nhân lọc thay thế thận.
- Điều trị thiếu máu do thận có biểu hiện triệu chứng ở bệnh nhân chưa cần lọc thay thế thận.
- Phòng thiếu máu ở trẻ sinh non có cân nặng lúc sinh từ 750 g tới 1500 g và tuổi thai dưới 34 tuần.
- Điều trị thiếu máu có biểu hiện triệu chứng ở người trưởng thành bị u ác tính không phải ở tủy đang được điều trị bằng hóa trị liệu.
- Tăng sinh lượng máu tự thân của người đang trong thời kỳ chuẩn bị cho máu.
- Việc dùng thuốc trong chỉ định này cần được cân nhắc về khả năng tăng nguy cơ huyết khối gây tắc mạch đã được báo cáo. Việc điều trị chỉ áp dụng đối với bệnh nhân thiếu máu mức độ trung bình (Hb 10 – 13 g/dl [6.21 – 8.07 mmol/l], không thiếu sắt) nếu quá trình bảo quản máu không được thực hiện hoặc không đủ trong khi cuộc đại phẫu theo chương trình lại đòi hỏi một lượng máu lớn (từ 4 đơn vị máu trở lên đối với nữ và 5 đơn vị máu trở lên đối với nam).
Cách dùng Thuốc tiêm Recormon 4000Iu/0.3ml
Cách dùng
Thuốc Recormon được dùng tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch.
Việc thay thế bởi bất kỳ một loại thuốc sinh học nào khác cần phải có sự đồng ý của bác sỹ kê đơn.
Bơm tiêm đóng sẵn epoetin beta có thể dùng được ngay. Không bao giờ được dùng lại bơm tiêm trong bất kì hoàn cảnh nào; thuốc chỉ được dùng cho một lần tiêm.
Liều dùng
Điều trị bệnh nhân thiếu máu do suy thận mạn
- Dung dịch có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. Trong trường hợp tiêm tĩnh mạch, cần tiêm dung dịch trong vòng 2 phút, ví dụ ở bệnh nhân lọc máu, nên tiêm qua cầu nối động tĩnh mạch khi lọc thận xong.
- Ở bệnh nhân không lọc máu, đường tiêm dưới da luôn nên được ưu tiên để tránh làm vỡ tĩnh mạch ngoại vi.
- Ở bệnh nhân suy thận mạn tính, mục đích của việc điều trị là để tăng hemoglobin mục tiêu đạt mức 10 – 12 g/dl. Hemoglobin không nên vượt quá 12 g/dl. Nếu hemoglobin tăng cao hơn 12 g/dl (1,3 mmol/l) trong 4 tuần, cần cân nhắc giảm liều cho phù hợp. Trong trường hợp có tăng huyết áp hoặc bệnh lý trước đó về tim mạch, mạch não hoặc mạch ngoại vi, mức độ tăng hàng tuần hemoglobin và mức hemoglobin mục tiêu nên được xác định cụ thể cho từng bệnh nhân theo bệnh cảnh lâm sàng. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ nhằm đảm bảo kiểm soát đầy đủ các triệu chứng thiếu máu với liều epoetin beta thấp nhất.
Điều trị với epoetin beta
Được chia làm 2 giai đoạn.
Giai đoạn chữa trị
- Tiêm dưới da.
- Liều khởi đầu là 3 x 20 iu/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần. Cứ sau 4 tuần có thể tăng liều 3 x 20 iu/kg cho một tuần nếu hemoglobin tăng chưa đủ (< 0,25 g/dl mỗi tuần).
- Liều mỗi tuần có thể được chia ra thành các liều dùng hàng ngày.
- Liều tối đa không được vượt quá 720 iu/kg mỗi tuần.
Giai đoạn duy trì
- Để giữ chỉ số hemoglobin mục tiêu trong khoảng 10 – 12 g/dl, đầu tiên giảm liều thuốc xuống còn một nửa so với liều đang dùng. Sau đó, cứ mỗi hai tuần tới bốn tuần lại chỉnh liều tùy theo từng bệnh nhân (liều duy trì). Trong trường hợp dùng đường tiêm dưới da, liều dùng hàng tuần có thể tiêm một lần hoặc chia thành ba lần hay bảy lần một tuần. Những bệnh nhân ổn định với liều một tuần một lần có thể chuyển sang tiêm một lần mỗi hai tuần. Trong trường hợp này có thể phải tăng liều.
- Việc điều trị với epoetin beta thông thường kéo dài. Tuy nhiên, nếu cần thiết có thể dừng bất kỳ lúc nào. Những dữ liệu về liều điều trị một lần mỗi tuần đã được thiết lập dựa trên những nghiên cứu lâm sàng có thời gian điều trị 24 tuần.
Điều trị thiếu máu có biểu hiện triệu chứng cho những bệnh nhân bị ung thư dùng hóa trị liệu
- Dung dịch dùng để tiêm dưới da.
- Liều hàng tuần có thể tiêm một lần hoặc chia làm 3 tới 7 liều đơn.
- Liều khởi đầu được khuyến cáo là 30.000 iu/ tuần (tương đương với khoảng 450 iu/ kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần, dựa trên một bệnh nhân có trọng lượng trung bình).
- Recormon được chỉ định nếu như trị số hemoglobin ≤ 11 g/dl (6,83 mmol/l).
- Mức hemoglobin không nên vượt quá 13g/dl (8,07 mmol/l).
- Nếu sau 4 tuần điều trị, trị số hemoglobin tăng lên ít nhất 1 g/dl (0,62 mmol/l), nên tiếp tục liều đang dùng cho bệnh nhân. Nếu trị số hemoglobin không tăng lên ít nhất 1 g/dl (0,62 mmol/l), nên nghĩ đến việc tăng liều hàng tuần lên gấp đôi. Nếu sau 8 tuần điều trị, trị số hemoglobin không tăng lên ít nhất 1 g/dl (0,62 mmol/l), khó có khả năng đáp ứng và nên ngừng điều trị.
- Nên kéo dài điều trị cho tới 4 tuần sau khi kết thúc hóa trị liệu.
- Liều tối đa không nên vượt quá 60.000 iu mỗi tuần.
- Một khi đã đạt được mục đích điều trị cho bệnh nhân, nên giảm liều từ 25% đến 50% để duy trì hemoglobin ở mức đã đạt được. Nếu cần thiết, cần phải giảm thêm liều để bảo đảm rằng trị số hemoglobin không vượt quá 13 g/dl.
- Nếu hemoglobin tăng trên 2 g/dl (1,3 mmol/l) trong 4 tuần, nên giảm 25% đến 50% liều recormon.
Điều trị để tăng lượng máu tự thân
- Dung dịch được tiêm tĩnh mạch vào khoảng 2 phút hoặc tiêm dưới da.
- Dùng recormon hai lần/tuần trong 4 tuần. Trong trường hợp hematocrit của bệnh nhân đủ để cho máu, ví dụ hematocrit ≥ 33%, epoetin beta được dùng vào cuối lúc cho máu.
- Trong suốt thời gian điều trị, hematocrit không được vượt quá 48%.
- Liều dùng cần được xác định bởi kíp mổ cho từng bệnh nhân dựa trên lượng máu dự tính sẽ lấy ra trước mổ và lượng hồng cầu dự trữ nội sinh.
- Liều dùng mỗi lần được xác định như trên được dùng 2 lần/tuần và trong 4 tuần. Liều tối đa không được vượt quá 1600 iu/kg trọng lượng cơ thể/tuần khi tiêm tĩnh mạch hoặc 1200 iu/kg trọng lượng cơ thể/tuần khi tiêm dưới da.
Phòng thiếu máu ở trẻ sinh non
- Đối với chỉ định này, chỉ dùng dạng thuốc bơm tiêm đóng sẵn.
- Thuốc được dùng bằng đường tiêm dưới da với liều 3 x 250 iu/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần.
- Việc điều trị với recormon nên bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất là vào ngày thứ ba sau khi sinh.
- Những trẻ sinh non đã được truyền máu khi bắt đầu điều trị bằng epoetin beta có thể không đạt được hiệu quả điều trị tốt bằng những trẻ không được truyền máu.
- Việc điều trị cần kéo dài 6 tuần.







Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.