Công dụng của Thuốc Forlen
Chỉ định Forlen
Thuốc được chỉ định điều trị các nhiễm trùng sau đây bao gồm cả các trường hợp có nhiễm trùng huyết nghi ngờ hoặc đã xác định do các chủng vi khuẩn hiếu khí hoặc kỵ khí Gram (+) nhạy cảm gây ra.
Điều trị phối hợp có thể được chỉ định trên lâm sàng trong trường hợp vi khuẩn gây bệnh bao gồm cả các chủng vi khuẩn Gram (-).
Linezolid chỉ có tác dụng trên các vi khuẩn Gram (+). Linezolid không có hoạt tính trên các chủng vi khuẩn gây bệnh Gram (-). Cần sử dụng liệu pháp có tác dụng đặc hiệu trên các vị khuẩn Gram (-) trong trường hợp đã xác định hoặc nghi ngờ nhiễm đồng thời vi khuẩn Gram (-).
Viêm phổi bệnh viện.
Viêm phổi mắc phải từ cộng đồng.
Nhiễm trùng da và mô mềm.
Nhiễm khuẩn do Enterococcus bao gồm cả nhiễm khuẩn do Enterococcus faecium và faecalis kháng vancomycin gây ra.
Dược động học Forlen
Hấp thu
Linezolid được hấp thu nhanh và hoàn toàn sau khi uống. Nồng độ trong huyết tương tối đa đạt được trong vòng 2 giờ sau khi dùng thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống của linezolid (sử dụng đường uống và đường tĩnh mạch trong nghiên cứu chéo đôi) là hoàn toàn (khoảng 100%). Hấp thụ của thuốc không ảnh hưởng đáng kể bởi thức ăn và hấp thu của hỗn dịch uống tương tự khi dùng viên nén bao phim.
Giá trị Cmax và Cmin trong huyết tương của linezolid (trung bình và [độ lệch chuẩn]) ở trạng thái ổn định sau khi tiêm tĩnh mạch 600mg, 2 lần/ngày đã được xác định tương ứng là 15,1 [2,5]mg/l và 3,68 [2,68]).
Trong một nghiên cứu khác khi dùng đường uống liều 600mg, 2 lần/ ngày, Cmax và Cmin của thuốc ở trạng thái ổn định được xác định tương ứng là 21,2 [5,8]mg/l và 6,15 [2,94]mg/l.
Trạng thái ổn định của thuốc đạt được vào ngày thứ hai sau khi dùng thuốc.
Phân bố
Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định trung bình khoảng 40 – 50l ở người trưởng thành khỏe mạnh, xấp xỉ thể tích tổng lượng nước trong cơ thể. Khoảng 31% thuốc liên kết với protein huyết tương. Tỷ lệ liên kết này không phụ thuộc nồng độ.
Nồng độ linezolid được xác định trong nhiều dịch sinh học khác nhau trên một số lượng nhỏ người tình nguyện trong các nghiên cứu sau khi dùng liều lặp lại. Tỷ lệ linezolid trong nước bọt và mồ hôi so với trong huyết tương tương ứng là 1,2/1,0 và 0,55/1,0. Tỷ lệ linezolid trong dịch lót biểu mô và tế bào phế nang so với trong huyết tương tương ứng là 4,5/1,0 và 0,15/1,0, đo tại thời điểm xác định Cmax trong huyết tương ở trạng thái ổn định.
Thông tin dược động học trên bệnh nhi đặt dẫn lưu não thất – ổ bụng cho thấy sự dao động nồng độ linezolid trong dịch não tủy sau khi sử dụng liều đơn hoặc liều lặp lại. Nồng độ điều trị không thường xuyên đạt được hoặc được duy trì ổn định trong dịch não tuỷ. Do vậy, không khuyến cáo sử dụng linezolid theo kinh nghiệm trong các trường hợp nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhi.
Chuyển hóa
Linezolid được chuyển hóa chủ yếu qua con đường oxy hóa vòng morpholin để tạo thành 2 dẫn chất acid carboxylic mở vòng chính không có hoạt tính là acid amino ethoxy acetic (PNU-142300) và hydroxyethyl glycin (PNU-142586).
Chất chuyển hóa hydroxyethyl glycin (PNU-142586) là chất chuyển hóa chính trong cơ thể và được cho rằng tạo thành không có sự tham gia của các enzym. Chất chuyển hóa acid amino ethoxy acetic (PNU- 142300) được tạo thành ít hơn. Một số chất chuyển hóa phụ khác không có hoạt tính cũng đã được xác định.
Thải trừ
Trên bệnh nhân chức năng thận bình thường hoặc có suy thận nhẹ đến trung bình, linezolid được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ở trạng thái ổn định dưới dạng PNU-142586 (40%), dạng nguyên vẹn (30%) và PNU-142300 (10%). Thuốc dạng nguyên vẹn hầu như không tìm thấy trong phân trong khi có khoảng 6% và 3% liều dùng tương ứng với dạng PNU-142586 và PNU-142300 được phát hiện trong phân. Thời gian bán thải trung bình của linezolid vào khoảng 5 – 7 giờ.
Thanh thải ngoài thân của linezolid chiếm khoảng 65% độ thanh thải toàn phần. Một phần nhỏ không tuyến tính của độ thanh thải xuất hiện khi tăng liều linezolid. Điều này có thể do ở nồng độ cao hơn, độ thanh thải thận và ngoài thận của linezolid thấp hơn. Tuy nhiên, sự khác biệt về độ thanh thải là nhỏ và không làm thay đổi thời gian bán thải.
Quần thể bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhân suy thận
Sau khi dùng liều đơn 600mg, nồng độ hai chất chuyển hóa chính trong huyết tương tăng 7 – 8 lần trên những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30ml/phút).
Tuy nhiên, diện tích dưới đường cong AUC của dạng thuốc nguyên vẹn không tăng. Mặc dù một lượng nhỏ các chất chuyển hóa chính của linezolid bị thải trừ qua lọc máu, nồng độ các chất chuyển hóa trong huyết tương sau khi dùng liều đơn 600mg vẫn cao hơn đáng kể nồng độ quan sát được trên bệnh nhân chức năng thận bình thường hoặc bệnh nhân có mức độ suy thận từ nhẹ đến trung bình.
Trên 24 bệnh nhân bị suy thận nặng trong số đó 21 người phải thẩm phân máu thường xuyên, nồng độ đỉnh của hai chất chuyển hóa chính trong huyết tương sau khoảng vài ngày dùng thuốc cao hơn gấp khoảng 10 lần nồng độ quan sát thấy trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Nồng độ đỉnh linezolid trong huyết tương không bị ảnh hưởng.
Ý nghĩa lâm sàng của các quan sát này chưa được thiết lập do dữ liệu về độ an toàn hiện tại của thuốc còn hạn chế (xem mục 4.).
Bệnh nhân suy gan
Số liệu hạn chế cho thấy dược động học của linezolid, PNU-142300 và PNU-142586 không thay đổi trên bệnh nhân bị suy gan nhẹ đến trung bình (Child-Pugh nhóm A hoặc B). Các thông số dược động học của linezolid trên bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh nhóm C) chưa được đánh giá. Tuy nhiên, do linezolid được chuyển hóa qua con đường không thông qua enzym nên suy giảm chức năng gan sẽ không làm thay đổi đáng kể chuyển hóa của thuốc (xem mục 4.).
Trẻ em và thiếu niên (< 18 tuổi)
Trên thiếu niên (12 đến 17 tuổi), dược động học của linezolid tương tự như ở người lớn khi dùng liều 600mg. Do vậy, lượng thuốc trong cơ thể ở thiếu niên khi dùng 600mg linezolid, 12 giờ một lần sẽ tương tự ở người lớn khi dùng cùng mức liều.
Ở trẻ từ 1 tuần đến 12 tuổi, dùng 10mg/kg cách 8 giờ một lần sẽ thu được tổng lượng thuốc trong cơ thể tương tự ở người lớn khi dùng liều 600mg 2 lần một ngày.
Ở trẻ sơ sinh dưới 1 tuần tuổi, thanh thải toàn thân của linezolid (tính trên kg trọng lượng cơ thể) tăng nhanh trong tuần tuổi đầu tiên. Do vậy, trẻ sơ sinh dùng 10mg/ kg cách 8 giờ một lần sẽ có tổng lượng thuốc trong cơ thể lớn nhất vào ngày đầu tiên sau khi dùng thuốc. Tuy nhiên, mức liều này sẽ không gây tích tụ thuốc quá mức trong tuần đầu sau khi sinh vì độ thanh thải tăng nhanh trong giai đoạn này.
Bệnh nhân cao tuổi
Dược động học của linezolid không thay đổi rõ rệt trên những bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên.
Bệnh nhân nữ
Phụ nữ có thể tích phân bố của linezolid thấp hơn một chút so với nam giới và giá trị độ thanh thải trung bình giảm khoảng 20% tương ứng với trọng lượng cơ thể. Nồng độ linezolid trong huyết tương cao hơn ở phụ nữ, điều này một phần là do sự khác biệt về trọng lượng cơ thể.
Tuy nhiên, thời gian bán thải trung bình của linezolid khác nhau không đáng kể giữa phụ nữ và nam giới, nồng độ thuốc trong huyết tương ở phụ nữ không tăng lên đáng kể ở những bệnh nhân dung nạp tốt nên không cần thiết phải hiệu chỉnh liều.
Cách dùng Thuốc Forlen
Cách dùng Forlen
Bệnh nhân được điều trị ban đầu bằng linezolid đường tiêm có thể được chuyển sang dùng thuốc đường uống dạng viên nén hoặc hỗn dịch mà không cần hiệu chỉnh liều.
Liều dùng Forlen
Người lớn và thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên)
Viêm phổi bệnh viện, bao gồm các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 600mg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 12 giờ một lần.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Viêm phổi mắc phải từ cộng đồng, bao gồm cả các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 600mg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 12 giờ một lần.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Các nhiễm trùng da và mô mềm, bao gồm cả các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 600mg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 12 giờ một lần.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Nhiễm trùng do Enterococcus, bao gồm các chủng kháng vancomycin và các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 600mg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 12 giờ một lần.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 14 – 28 ngày.
*Liều dùng đường uống sử dụng linezolid dạng viên nén hoặc dạng hỗn dịch.
*Người lớn bị nhiễm trùng da và mô mềm nhẹ có thể dùng 400mg linezolid đường uống cách 12 giờ một lần.
Trẻ em (từ lúc mới sinh cho đến 11 tuổi)
Viêm phổi bệnh viện, bao gồm các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 10mg/10kg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 8 giờ.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Viêm phổi mắc phải từ cộng đồng, bao gồm cả các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 10mg/10kg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 8 giờ.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Các nhiễm trùng da và mô mềm, bao gồm cả các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 10mg/10kg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 8 giờ.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 10 – 14 ngày.
Nhiễm trùng do Enterococcus, bao gồm các chủng kháng vancomycin và các trường hợp có kèm theo nhiễm trùng huyết
Dùng 10mg/10kg tiêm tĩnh hoặc theo uống* cách 8 giờ một lần.
Thời gian điều trị khuyến cáo (số ngày dùng liên tục): 14 – 28 ngày.
*Trẻ đẻ non dưới 7 ngày tuổi (tuổi thai dưới 34 tuần) có độ thanh thải toàn thân của linezolid thấp hơn và giá trị dưới đường cong AUC lớn hơn nhiều so với trẻ sơ sinh đủ tháng và trẻ sơ sinh lớn hơn. Ở ngày tuổi thứ 7, độ thanh thải của linezolid và giá trị AUC tương tự như với trẻ sơ sinh đủ tháng và trẻ sơ sinh lớn hơn.
*Liều uống sử dụng linezolid dạng viên nén hoặc hỗn dịch.
Bệnh nhân cao tuổi
Không cần hiệu chỉnh liều.
Bệnh nhân suy giảm chức năng thận
Không cần hiệu chỉnh liều.
Bệnh nhân suy thận nặng (Vd: Độ thanh thải creatinin < 30ml/phút)
Không cần hiệu chỉnh liều. Do ảnh hưởng trên lâm sàng khi tiếp xúc với hai chất chuyển hóa chính của linezolid ở nồng độ cao (đến 10 lần) trên bệnh nhân suy thận nặng vẫn chưa được xác định, vì vậy nên thận trọng khi sử dụng linezolid cho những bệnh nhân này và chỉ sử dụng khi lợi ích mong đợi vượt trội hơn các nguy cơ về mặt lý thuyết.
Đối với bệnh nhân thẩm phân máu, nên dùng linezolid sau khi thẩm phân vì có khoảng 30% liều linezolid bị thải trừ trong vòng 3 giờ thẩm phân. Các chất chuyển hóa chính của linezolid bị thải trừ một phần trong quá trình thẩm phân nhưng nồng độ các chất chuyển hóa này vẫn còn tương đối cao sau quá trình thẩm phân so với các bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc bệnh nhân suy thận ở mức độ nhẹ đến trung bình.
Do vậy, nên thận trọng khi sử dụng linezolid cho các bệnh nhân suy thận nặng đang thẩm phân máu và chỉ sử dụng khi lợi ích mong đợi vượt trội hơn các nguy cơ về mặt lý thuyết.
Cho đến nay, chưa có kinh nghiệm về việc sử dụng linezolid cho các bệnh nhân thẩm phân phúc mạc liên tục (CAPD) hoặc các phương pháp điều trị thay thế trong trường hợp suy thận (ngoài thẩm phân máu).
Bệnh nhân suy giảm chức năng gan
Không cần hiệu chỉnh liều.
Tuy nhiên, các dữ liệu lâm sàng hiện còn hạn chế và linezolid được khuyến cáo chỉ nên sử dụng cho những bệnh nhân này khi lợi ích được mong đợi vượt trội hơn nguy cơ về mặt lý thuyết.
Làm gì khi quá 1 liều?
Trong trường hợp quá liều, cần thực hiện chăm sóc hỗ trợ, duy trì sự lọc của cầu thận. Lọc máu có thể loại bỏ 30% liều linezolid.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.